Chánh Định - giảng bằng ngôn ngữ thông thường

Thiền sư Henepola Gunaratana
Lê Kim Kha dịch

Chánh Định - giảng bằng ngôn ngữ thông thường

 

Về quyển sách này

Nhiều người chúng ta đã biết rằng Thiền (bhavana) có nghĩa tu dưỡng tâm, hay phát triển tâm, là con đường để dẫn đến sự giác ngộ và giải thoát: mục tiêu rốt ráo của đạo Phật.

Dường như có nhiều con đường để tu tập đi đến giải thoát, tùy theo cách ứng dụng và tin tưởng vào cách tu của những trường phái khác nhau. Tuy nhiên, Phật giáo Nguyên thủy vẫn giữ nguyên giáo trình nguyên thủy mà Đức Phật lịch sử đã chỉ dạy từ hơn 2.550 năm trước.

Phần lớn chúng ta đều nghĩ các tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy tu tập theo phương pháp “thiền tuệ”, như thiền về Tâm Từ (metta) làm cơ sở, thiền tuệ Minh Sát (vipassana) với các đề mục nằm trong kinh “Bốn nền tảng chánh niệm”. Nhưng thực ra, bên trong phương pháp thiền tuệ vẫn chứa đựng yếu tố “thiền-định”: một trong những yếu tố quan trọng nhất. Bát Thánh Đạo, con đường cột sống của đạo Phật, gồm hai phần thế tục và siêu thế, đều có chứa yếu tố “chánh định” như là yếu tố quan trọng và không thể thiếu được.

Đức Phật lịch sử đã không chỉ dạy pháp môn riêng là Thiền định hay Thiền tuệ, Phật chỉ dùng một chữ chung là Thiền, chữ đó là chữ “Jhana”. Chữ “Jhana” mà Phật đã dùng có nghĩa chung là “Thiền”, bên cạnh các nghĩa riêng là “trạng thái các tầng thiền định”. Và Đức Phật đã nói: “Thiền (jhana) chính là con đường dẫn đến sự giải thoát” (theo Trung Bộ Kinh, 36). Phương pháp thiền mà Phật đã chỉ dạy đều chứa đựng yếu tố “định” và “niệm” như là hai yếu tố song hành và hỗ trợ cho nhau. Vì vậy, Thiền Định (samadhi), vốn có trước thời Đức Phật và mặc dù không phải là thiền cốt lõi của Phật giáo, nhưng nó cũng không bị (Phật) tách khỏi Thiền Phật giáo. Nó là một công cụ không thể thiếu được cho việc tu tập theo hướng tu của Thiền Phật giáo. Và Thiền định trong quyển sách này được giảng giải dựa vào những lời dạy và hướng dẫn tu tập của chính Đức Phật lịch sử.

Có hai con đường nhánh: Thứ nhất, một số người có căn tu trì theo Lòng Tin (tín-căn) hoặc có căn tu trì theo Giáo Pháp (trí-căn): họ có thể tu tập và có thể nhập lưu vào dòng Thánh Đạo siêu-thế mà không cần phải chứng đắc một tầng thiền định nào. Sau khi đã chứng nhập vào các tầng thánh đạo siêu thế đó, họ sẽ tự phát triển tu tập chánh định cùng với chánh niệm và những yếu tố khác để tiếp tục tiêu diệt các gông cùm và tiến về hướng giải thoát. Tuy nhiên, dường như con đường này không phải là con đường phổ biến của đại đa số những người tu trong lịch sử!

Thứ hai, có những người tu khác lại bắt đầu tu theo con đường thiền-định để chứng đắc được trạng thái định sâu của các tầng thiền định (jhana). Phương pháp truyền thống này có vẻ như đường vòng, nhưng các bước thực hiện thì rõ ràng. Họ tu tập kết hợp với chánh-niệm để tạo ra được trạng thái định tâm đúng đắn được gọi là “chánh định”, và sau đó dùng sự “chánh định” thâm sâu hùng mạnh đó để hợp nhất với “chánh niệm” thâm sâu tinh khiết, đặc biệt trong các chặng đường siêu thế về sau, để đi đạt đến loại trí tuệ giải thoát. Những người theo Thiền Phật giáo của Đức Phật thường dừng lại ở Tứ Thiền, và dùng “chánh định đỉnh cao” của Tứ Thiền để thực hiện mục tiêu này.

Quyển sách này giảng giải và hướng dẫn riêng về các bước tu “Thiền định” từ bước sơ khởi cho đến những bước chứng đắc các tầng thiền định sắc giới, hướng đến mục đích của Thiền Phật giáo như mới nói trên.

Tuy nhiên, để cho trọn vẹn về đề tài thiền-định, thiền sư tác giả cũng đã trình bày thêm về các tầng thiền định vô sắc giới. Đây là phần vượt cao hơn bốn tầng thiền sắc giới, phần này dành cho những ai muốn hoàn thiện hơn nữa trình độ thiền định của mình. [Theo kinh điển, vào thời trước khi Giác Ngộ, Đức Phật cũng đã học để tu chứng các tầng thiền định cao nhất này từ các vị thầy thiền định của mình. (Mặc dù điều này cũng chưa thật sự là xác thực, nếu chỉ dựa vào những lời kinh đó). Tuy nhiên về sau Phật nhận ra các tầng thiền định vô sắc theo kiểu của các vị thầy đó là không đúng đắn để đi đến giải thoát; không đúng đắn vì thiếu sự chánh niệm đi kèm. Các tầng thiền vô sắc giới đó nếu đích thực được tu tập với mục tiêu đúng đắn (chánh đạo), thì chúng cũng sẽ đi cặp bên con đường chánh đạo siêu thế cùng với các tầng giác ngộ sau cùng]. Nhìn lại Kinh tạng Nguyên thủy, Đức Phật cũng đã đưa phần “những tầng thiền vô sắc” vào trong giáo trình của mình như là phần tùy chọn cho những người tu. Còn bản thân Đức Phật về sau theo con đường “Trung Đạo”, cũng theo các Kinh tạng, đã dùng sự “chánh định” hùng mạnh của “Tứ Thiền sắc giới” để kết hợp với “chánh niệm” và “các yếu tố giác ngộ” khác để thực thi và thành tựu sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Đó là con đường của Thiền Phật giáo.

Cũng như hai quyển sách đồng thời của vị thiền sư này: “Chánh Niệm-giảng bằng ngôn ngữ thông thường” và “Bốn Nền Tảng Chánh Niệm-giảng bằng ngôn ngữ thông thường”, quyển sách “Chánh Định-giảng bằng ngôn ngữ thông thường” này cũng được giảng giải một cách giản dị và dễ hiểu bằng thứ “ngôn ngữ thông thường”, không dùng các thuật ngữ học thuật có thể làm “lạc” sự chú tâm và hiểu biết của độc giả. Cũng như tác giả, người dịch muốn nhắn gửi với quý độc giả xuất gia và tại gia rằng: chúng ta nên đọc hết ba quyển sách vừa nói trên, bởi vì, ba quyển được trình bày với cùng mục đích là “Hướng dẫn tu tập” hơn là về lý thuyết từ chương về Thiền học, và chúng có nhiều điểm chung để bổ sung cho nhau về nhiều mặt và kỹ thuật thiền tập.

Đối với những người chưa thiền tập, thì đây có lẽ là những quyển sách “dễ đọc nhất, rõ ràng, và khá đầy đủ các hướng dẫn cốt lõi” để bắt đầu thực hành. Nếu không thực hành ngay, thì chí ít cũng rất hữu ích cho sự hiểu biết của các bạn. Chẳng hạn như, sau khi bạn đọc những quyển sách này, thì bạn sẽ có thể đọc hiểu những quyển sách dùng nhiều thuật ngữ học thuật một cách dễ dàng hơn.

Đối với những người đã và đang tu thiền theo hướng này, thì quyển sách này và hai quyển sách nói trên, có thể là cẩm nang để quý vị (i) ôn tập lại các kỹ thuật thiền, (ii) nắm bắt thêm những thủ thuật thiền tập mới, hoặc (iii) nhìn lại các vấn đề thiền theo một phát đồ thiền tập rõ rệt hơn và ngắn gọn hơn.

Đây là sách hướng dẫn thực hành, vì vậy bạn nên đọc lời chỉ dạy của vị thiền sư này và thực tập theo đó. Bạn không cần “nghĩ tưởng” hay “đối chiếu” với các câu từ, thuật ngữ, hay cách diễn đạt của các kinh sách và giảng luận khác. Điều đó chỉ làm cho các bạn bị “lạc” khỏi sự hướng dẫn thực hành một cách “trực chỉ” của tác giả. Ví dụ, khi bạn đọc về “chướng ngại” thì bạn cứ hiểu theo tác giả và tiếng Việt: đó là các “chướng ngại”. Đừng cố công dịch ngược lại các chữ cũ như “triền cái” hay “ngũ cái”. Ai cũng hiểu nghĩa đen của “chướng ngại” là gì. Ngay cả tác giả, một học giả nổi tiếng về Phật học, cũng đã không dùng một thuật ngữ nào trong quyển sách này. Chắc cũng vì lối dạy “trực chỉ và phi thuật ngữ” này mà mấy chục năm qua giới thiền học thế giới mới gọi những quyển sách của thầy là những “tuyệt tác”.

Khi đọc quyển sách này, chúng ta sẽ có cảm giác như đang nghe vị thiền sư này kể lại những bước thực hành, những sự vượt qua các chướng ngại, những sự chứng đắc các tầng thiền định của chính tác giả. Vì những gì thầy viết là rất “riêng”, rất “tả thực” về những gì thực sự xảy ra đối với một người tu thiền từ sơ cơ cho đến những bước chứng ngộ. Những điều thực thì thường được diễn tả theo một thứ ngôn ngữ chân chất trực chỉ; chứ không thể nào dùng những thuật ngữ hay văn phong trong kinh sách để diễn tả chúng cho được. Chắc hẳn đó là những kinh nghiệm riêng của thầy trong suốt mấy mươi năm tu thiền, và thầy đã từ bi biên tập lại theo từng bước bài bản để cho những thế hệ người tu sau này nắm bắt nhanh cách tu tập và vượt qua những trở ngại khi thiền tập. Chúng ta biết bậc chân tu nếu chưa tự thân thực hành thành công và chứng đắc các tầng thiền định cao sâu đó (hoặc cũng chưa từng “Nhập Lưu” vào dòng thánh Đạo) thì họ sẽ không viết sách thực hành để dạy người khác, không ai làm vậy để tâm bị dính danh và tự làm tổn thương lòng từ bi của một người tu hành.

Có rất nhiều chỗ, và nhiều sự diễn tả rất đơn giản về mặt ngôn ngữ, nhưng chúng ta không hiểu được những trạng thái đó. Chắc chắn là vậy. Bởi vì phần nhiều trong chúng ta chưa trải nghiệm được chúng. Chỉ có cách chúng ta cố thực hành những lời hướng dẫn, và đến lúc nào đó người tu sẽ tự mình “thấy” được những trạng thái đó. Những trạng thái tầng thiền định thì vượt qua sự hiểu biết suy lý của cái tâm bình thường còn chưa tu tập đến đó. Kết quả của thiền là từ thực hành, không phải là do đọc sách mà “thấy” được.

Một số giải thích trong ngoặc [...] là của tác giả. Các giải thích trong ngoặc (...) và các chú thích cuối trang là của người dịch, đó chỉ là đơn thuần về mặt ngữ nghĩa, không phải quan điểm của người dịch. Nếu độc giả không cần đọc, vui lòng bỏ qua, đó không phải lời của tác giả.

 

NỘI DUNG SÁCH:

Bìa sách

Chánh Định - giảng bằng ngôn ngữ thông thường